Chào mừng quý vị đến với website của Trường THCS Nguyễn Thông
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành
viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của
Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Dai Viet Su Ky Toan ThuTruyen TranhTap 3

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Phạm Hữu Triều (trang riêng)
Ngày gửi: 20h:07' 23-11-2010
Dung lượng: 33.4 MB
Số lượt tải: 34
Nguồn:
Người gửi: Phạm Hữu Triều (trang riêng)
Ngày gửi: 20h:07' 23-11-2010
Dung lượng: 33.4 MB
Số lượt tải: 34
Số lượt thích:
0 người
ĐẠI VIỆT SỬ KÝ TOÀN THƯ
TRUYỆN TRANH - TẬP 3
TỪ THỜI KỲ NHÀ MẠC
ĐẾN CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN PHỦ
61. Năm 1533, nhà Lê mất ngôi: Nhà Lê làm vua được 100 năm truyền đến vua Lê Chiêu Tông thì bị Mạc Đặng Dung cướp ngôi.
62. Chúa Trịnh: Nhà Mạc truyền ngôi đến Mạc Mậu Hợp thì bị Trịnh Tùng giết ở Thăng Long. Năm 1592, họ Trịnh xưng là chúa Trịnh đóng đô ở phía Bắc, chỉnh đốn quyền hành.
63. Trịnh Nguyễn phân tranh: Mặt khác, từ năm 1558 ông Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa lập nghiệp, đánh chiếm thêm đất của Chiêm Thành, xưng là chúa Nguyễn ở phương Nam. Chúa Nguyễn cho dân nghèo vào khai khẩn các vùng đất mới miền Nam. Từ đó nước Nam chia làm hai, lấy sông Gianh làm ranh giới.
64. Người Tây phương sang Việt Nam buôn bán: Giữa thế kỷ 16, người Bồ Đào Nha, người Hòa Lan đến nước ta buôn bán. Sau đó người Anh, người Pháp cũng đến buôn bán với nước ta. Các giáo sĩ cũng bắt đầu vào truyền bá đạo Thiên chúa cho dân Nam.
66. Chúa Nguyễn truyền đến đời Nguyễn Định Vương thì bị quyền thần Trương Phúc Loan chuyên quyền. Lợi dụng cơ hội, chúa Trịnh Sâm sai đại tướng Hoàng Ngũ Phúc đem quân vào đánh miền Nam.
67. Tây Sơn dấy binh: Năm 1771, đất Tây Sơn có 3 anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ khởi binh đánh lấy thành Qui Nhơn. Sau 3 anh em xin liên kết với chúa Trịnh rồi đem quân đánh chúa Nguyễn ở miền Nam. Cháu chúa Nguyễn là Nguyễn Ánh khởi binh đánh lại quân Tây Sơn. Nhưng sau quân Nguyễn Ánh thua to phải chạy ra Phú Quốc.
68. Nguyễn Ánh cầu viện Pháp, Xiêm La: Nguyễn Ánh gởi hoàng tử Cảnh cho giám mục Bá Đa Lộc sang Pháp cầu cứu. Vì Pháp giúp quân và tàu chiến, Nguyễn Ánh phải dâng cửa Hội An và đảo Côn Sơn cho người Pháp. Ngoài ra, chúa Nguyễn còn xin cầu cứu nước Xiêm La (Thái Lan). Vua Xiêm cho 20 ngàn quân và 300 chiến thuyền sang giúp, cốt để tìm lợi ích về sau.
69. Nguyễn Huệ phá quân Xiêm La: Quân Xiêm với 20 ngàn thủy quân tiến vào nước Nam. Nguyễn Huệ vào Gia định, nhử thủy quân Xiêm vào Mỹ Tho rồi đánh một trận. Quân Xiêm đại bại tan tành, chỉ còn lại vài ngàn người phải chạy bộ về nước.
70. Năm 1786, họ Trịnh mất nghiệp Chúa: Họ Trịnh truyền ngôi đến thời Trịnh Khải thì suy yếu vì tranh giành quyền lợi. Nguyễn Huệ lấy cớ phù Lê diệt Trịnh đem quân đánh chiếm thành Thăng Long. Chúa Trịnh tự tử chết.
71. Đời vua Lê Chiêu Thống, đại tư đồ Nguyễn Hữu Chỉnh chuyên quyền làm điều trái phép. Nguyễn Huệ sai Vũ Văn Nhậm ra đánh Chỉnh. Sau Nguyễn Huệ thấy Vũ Văn Nhậm kiêu căng lại đem binh ra Bắc lần thứ 2 đánh Vũ Văn Nhậm.
72. Cõng rắn cắn gà nhà: Vua Lê Chiêu Thống sợ hãi chạy qua Tàu cầu cứu. Vua Càn Long nhà Thanh sai Tôn Sĩ Nghị kéo 200 ngàn quân cùng với Hứa Thế Hanh, Sầm Nghi Đống sang đánh chiếm Thăng Long.
73. Vua Quang Trung đại phá quân Thanh: Vua Quang Trung Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế rồi kéo đại quân ra Bắc. Vua cho quân ăn Tết trước rồi giữa đêm giao thừa chớp nhoáng tấn công giặc. Đêm mùng 3 Tết quân Tàu ở đồn Hà Hồi bị quân Tây Sơn đánh phá quá mạnh nên phải ra đầu hàng.
74. Trận Ngọc Hồi: Mùng 5 Tết quân ta đánh đồn Ngọc Hồi, súng bắn ra như mưa. Vua Quang Trung cho quân khỏe mạnh khiêng ván đi trước, bộ binh theo sau. Quân ta tràn vào đồn rút dao chém giặc chết ngổn ngang, máu chảy thành sông. Hứa Thế Hanh tử trận, Sầm Nghi Đống phải treo cổ chết trong một ngôi miếu cổ.
75. Tôn Sĩ Nghị đang ngủ say, nửa đêm nghe báo tin không kịp thắng yên ngựa, bỏ cả ấn tín, không mặc áo giáp bỏ đồn chạy. Quân Thanh thấy chủ tướng bỏ chạy, tranh nhau qua cầu phao Nhị Hà. Cầu đổ, quân Tàu té xuống sông chết đuối, thây nổi như rạ.
76. Vua Quang Trung là một ông vua anh hùng, có nhiều mưu lược và cũng là một ông vua có lòng độ lượng, am hiểu việc trị nước, biết trọng nhân tài. Ông cho sứ đi cầu phong với nhà Thanh để giữ hòa khí. Mặt khác ông cho huấn luyện quân sĩ, chuẩn bị đánh nước Tàu dòi lại đất Lưỡng Quảng. Tiếc thay giấc mộng chưa thành thì ông chết sớm vào năm 40 tuổi.
77. Giám mục Bá Đa Lộc mang hoàng tử Cảnh về Pháp mộ tàu chiến và quân đội qua giúp Nguyễn Ánh. Nguyễn Ánh mang quân đánh từ Nam ra nhiều lần chiếm được thành Qui Nhơn và thành Phú Xuân.
78. Trong khi các vua quan sau của nhà Tây Sơn càng ngày càng yếu kém, chúa Nguyễn càng ngày càng cường thịnh. Năm 1802, Nguyễn Ánh đánh thắng quân Tây Sơn gồm thâu cả nước về một mối.
79. Nhà Nguyễn, 1802 - 1945: Nguyễn Ánh lên ngôi xưng là vua Gia Long, đặt tên nước là Việt Nam, đóng đô ở Huế (Phú Xuân). Nhìn chung Nguyễn Ánh là người hẹp hòi, đã cho đào mả của Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ vứt thây đi, và còn hành hạ, đánh giết tướng quân của Nguyễn Huệ. Mặt khác ông cũng giết hại công thần của chính ông. Tuy nhiên ông cũng có công trong việc khai khẩn miền Nam và cải tổ việc triều chính. Ông sai ông Nguyễn Văn Thành soạn bộ luật Gia Long gồm 22 quyển.
80. Năm 1820, vua Minh Mạng: Vua Minh Mạng là một ông vua siêng năng chăm lo việc nước và có nhiều cải cách. Ông đã đánh dẹp được nhiều giặc giã. Ông cũng cấm đạo Thiên Chúa, nhiều giáo sĩ và tín đồ bị giết.
81. Năm 1841, đời vua Thiệu Trị - Pháp bắn phá Đà Nẵng: Vua Thiệu Trị là một ông vua hiền hòa, không có nhiều cải cách. Năm 1847 có 2 tàu chiến của Pháp đậu ở Đà Nẵng, đang điều đình xin cho bỏ cấm đạo. Vì hiểu lầm là quân ta sắp tấn công, họ bắn chìm nhiều thuyền bè ta rồi bỏ đi.
82. Năm 1847, vua Tự Đức: Tự Đức là một ông vua học rộng, hiểu nhiều, thờ mẹ rất chí hiếu . Ông chăm lo việc vua, nhưng quan lại phần đông là những người thủ cựu, hẹp hòi. Nhiều đề nghị canh tân, cải cách của ông Nguyễn Trường Tộ và những người khác đều bị bác bỏ. Nước ta dùng chính sách bế quan tỏa cảng, không chịu giao tiếp với nước ngoài nên mất đi nhiều cơ hội quý báu mở cửa học hỏi, giao thương. Nếu vua Tự Đức có những phản ứng thích hợp, ông đã có thể đưa đất nước ta từ chỗ ngu muội, lạc hậu lên hàng phát triển, cường thịnh như là nước Nhật thời bấy giờ dưới triều Minh Trị Thiên Hoàng.
83. Pháp chiếm Nam kỳ: Năm 1859, Pháp đem tàu chiến tấn công Đà Nẵng rồi đánh chiếm thành Gia Định. Ông Nguyễn Tri Phương đắp thành Kỳ Hòa miệt Chí Hòa chống giặc, nhưng rồi cũng thua. Sau đó Pháp đánh tiếp và lấy được Mỹ Tho, Biên Hòa, Vĩnh Long.
84. Thất trận, triều đình ký hòa ước Nhâm Tuất, 1862, nhường Biên Hòa, Gia Định, Định Tường cho Pháp. Triều đình cho Pháp, Ý tự do giảng đạo và phải bồi thường thiệt hại cho 2 nước nầy. Triều đình cũng cử ông Phan Thanh Giản đi sứ nước Pháp để xin chuộc lại 3 tỉnh Nam kỳ nhưng không thành công.
85.Ông Phan Thanh Giản: Năm 1867, Pháp lại đánh tiếp chiếm 3 tỉnh Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên. Ông Phan Thanh Giản chống không lại, đành nộp thành rồi uống thuốc độc tự tử chết. Người Pháp kính trọng lòng trung liệt của ông đối với đất nước nên cho chôn cất ông đàng hoàng.
86. Giặc giã thời Tự Đức: Dù Tự Đức là một ông vua chăm chỉ, nhưng giặc giã nổi lên rất nhiều vì lòng người còn nhớ nhà Lê. Thời đó có giặc Tam Đường, giặc Châu Chấu, giặc tên Phụng, giặc kinh thành, giặc Chìa Vôi, giặc Khách...
87. Năm 1873, Pháp chiếm Bắc kỳ lần thứ 1: Lợi dụng tên lái buôn người Pháp là Đồ Phổ Nghĩa gặp cản trở trong việc buôn bán ngoài Bắc, đại úy Garnier đem tàu chiến từ Sài Gòn ra tấn công thành Thăng Long. Dù vũ khí thô sơ, ông Nguyễn Tri Phương anh dũng chiến đấu giữ thành, bị thương và bị giặc bắt. Ông không chịu để giặc băng bó vết thương, nhịn ăn mà chết. Về sau đại úy Garnier bị quân ta phối hợp với quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc phục kích và giết chết ở cầu Ô Giấy.
88. Năm 1874, Hòa ước Giáp Tuất : Triều đình Huế ký hòa ước với Pháp, Bắc kỳ được trả lại cho Việt Nam. Việt Nam cho người Pháp tự do giảng đạo và thương gia Pháp được tự do buôn bán. Nhưng sáu tỉnh Nam kỳ vẫn thuộc về nước Pháp.
89. Pháp chiếm Bắc kỳ lần thứ 2, tổng đốc Hoàng Diệu tự vẫn: Đổ lỗi việc giặc Khách ngăn trở người Pháp buôn bán, quân Pháp đem quân ra đánh thành Hà Nội lần thứ 2. Thành Hà Nội thất thủ, quan Tổng đốc Hà Nội là Hoàng Diệu thắt cổ tự vẫn.
90. Sự sai lầm của vua quan nhà Nguyễn: Trong khi các cường quốc kỹ nghệ cần mở rộng giao thương buôn bán thì vua quan nước ta u tối không biết thừa cơ mở cửa ra học hỏi, thông thương cho nước giàu dân mạnh. Nước ta trong thời kỳ này lại đóng cửa cấm đoán mọi thứ, làm các nước khác có cớ để xâm lấn nước ta . Thời đại biến đổi mà mình không biết biến đổi. Trong khi Nhật Bản, Thái Lan mở cửa giao thương học hỏi, thì mình tự cho mình là văn minh, coi các nước khác là lạc hậu, mọi rợ. Cái giá phải trả là cả đất nước, dân tộc ta là bị thực dân Pháp đô hộ cả trăm năm.
91. Năm 1884: Vua quan ta không chịu mở cửa giao thương, lại thích sang Tàu cầu viện. Quân Tàu cũng sang giúp ta đánh Pháp dù rằng nước Tàu cuối đời nhà Thanh cũng đang rối ren, bị các cường quốc phương Tây cấu xé. Sau Pháp và Tàu ký hòa ước Fournier, nước Tàu rút quân về để Pháp tiếp tục đánh chiếm nước ta.
92. Vua Hàm Nghi và Hịch Cần Vương: Triều đình Huế ngày một rối ren, quyền hành ở trong tay hai ông Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết. Năm 1885, Pháp tấn công triều đình Huế. Vua Hàm Nghi phải chạy ra Quảng Bình, ban hịch Cần Vương kêu gọi dân giúp vua chống Pháp. Triều đình không có vua phải lập vua Đồng Khánh lên ngôi.
93. Năm 1887: Pháp lập quan Tổng Đốc toàn quyền ở Sài Gòn để trông coi việc cai trị ở Nam kỳ và Cao Miên, cùng với việc bảo hộ ở Bắc kỳ. Mỗi nơi có một viên Thống sứ đứng đầu. Người Pháp thường nhúng tay can thiệp vào công việc triều đình. Họ hay ủng hộ việc lập các ông vua trẻ lên ngôi mà thực chất là bù nhìn để dễ dàng thuyết phục và lấn lướt quyền hành.
94. Trong khi Pháp lo xếp đặt ở Bắc kỳ thì ở Trung kỳ phong trào Cần Vương đánh phá mạnh. Vua Đồng Khánh ra sức chiêu dụ vua Hàm Nghi và các quan đại thần về cho yên việc đánh dẹp, nhưng các cựu thần vẫn nổi lên làm loạn. Vua Đồng Khánh phải trở về kinh.
95. Vua Hàm Nghi bị bắt: Bị tên cận thần Trương Quang Ngọc phản bội, vua Hàm Nghi bị bắt đày đi Algerie, nhiều quan quân bị Pháp giết. Tùy tướng Tôn Thất Đạm con của Tôn Thất Thuyết viết thư xin lỗi vua đã không làm tròn nhiệm vụ rồi tự vẫn giữ tấm lòng trung.
96. Cách cai trị của người Pháp: Thực dân Pháp chia nước ta thành 3 kỳ : Nam kỳ gọi là thuộc địa, coi như lãnh thổ nước Pháp. Bắc kỳ là xứ bảo hộ, quan Việt phải phục tùng quan Pháp. Trung kỳ do vua nước Nam giữ. người từ miền nầy qua miền khác phải xin phép chính phủ bảo hộ. Đây là chính sách “chia để trị “nhằm chia rẽ người Việt trong một nước để người Pháp dễ bề cai trị. người Pháp thu nhiều thứ thuế để nuôi dưỡng bọn quan quân bảo hộ.
97. Ông Phan Đình Phùng: Ông Phan Đình Phùng thi đỗ làm quan, có cả tài văn võ. Ông đứng đầu phong trào Văn Thân, xây chiến lũy Ba Đình, tập luyện binh sĩ chống Pháp. Ông có tài tổ chức quân đội, huấn luyện binh sĩ theo lối Âu châu. Thực Pháp đánh dẹp nhiều năm không xong. Sau ông già bị bịnh mà mất. Phong trào Văn Thân tan rã.
98. Ông Nguyễn Trung Trực, anh hùng trên sông Nhật Tảo : Ông Nguyễn Trung Trực sinh quán tại Bình Định. Ông là một sĩ phu bất khuất, lãnh đạo nghĩa quân khởi nghĩa 8 năm ở vùng Nam Kỳ Lục Tỉnh. Chiến công chói lọi của ông là đốt cháy tàu Espérance trên sông Nhật Tảo, Tân An, và đánh chiếm thành Sơn Đá tại Kiên Giang. Sau kháng chiến thất bại, ông bị bắt chém tại chợ Rạch Giá năm 1868. Dân chúng chôn cất và lập đền thờ ông tại tỉnh Rạch Giá.
99. Ông Trương Công Định, anh hùng Gò Công: Ông Trương Công Định từng ở trong đội quân của Kinh Lược Sứ Nguyễn Tri Phương và đánh Pháp lập được nhiều chiến công. Ông cùng nghĩa binh xây dựng nhiều đồn lũy kiên cố ở Gò Công. Được dân chúng ủng hộ mạnh mẽ, nghĩa binh ông gây nhiều thiệt hại cho giặc. Về sau ông bị tên Huỳnh Công Tấn làm phản dẫn quân Pháp về đánh. Ông hy sinh, đền nợ nước, để lại thương tiếc cho mọi người .
100. Ông Thiên Hộ Dương, anh hùng Đồng Tháp : Ông tên thật là Võ Duy Dương, làm chức Lãnh binh năm 1865. Ông khởi nghĩa ở miệt Đồng Tháp, Cái Bè, Mỹ Quý, Sa Đéc, gây nhiều thiệt hại cho thực dân Pháp. Sau ông bị bịnh chết, phong trào "Dân Chúng Tự Vệ" của ông từ đó cũng bị lu mờ và tan rã.
101. Ông Hoàng Hoa Thám, hùm thiêng Yên Thế: Ông Hoàng Hoa Thám người tỉnh Bắc Giang. Năm 1886, ông lập chiến khu Yên Thế, xây đồn trại, mua súng ống chống Pháp, nên ông còn có danh hiệu là Hùm Thiêng Yên Thế. Ông gây nhiều thiệt hại cho giặc Pháp ở vùng Nhã Nam, Yên Thế, Tam Đảo. Năm 1913, ông bị tên Lương Tam Kỳ làm phản giết ông để lãnh thưởng của giặc Pháp.
102. Ông Cao Thắng đúc súng: Ông Cao Thắng là một bộ tướng cüa ông Phan Ðình Phùng có tài rèn và đúc súng. Ông đúc súng theo kiểu 1874 của Pháp để trang bị cho nghîa binh. Tài nghệ cüa ông cũng được người Pháp kính trọng.
103. Anh hùng Nguyễn Thái Học: Là một sinh viên trường Cao Đẳng Thương Mại Hà Nội. Ông thành lập Việt Nam Quốc Dân Đảng, chủ trương bạo động chống Pháp, được sự tham gia đông đảo của giới thanh niên. Cuộc tổng khởi nghĩa năm 1930 bị thất bại, ông cùng 12 đồng chí bước lên máy chém ở Yên Bái. Trước khi chết ông bình tĩnh nhìn dân chúng, mỉm cười rồi hô to: "Việt Nam Muôn Năm".
104. Anh hùng Phạm Hồng Thái và tiếng bom Sa Diện: Năm 1923, quan Toàn quyền Merlin đi công tác bên Nhật về đến Sa Diện, Quảng Châu và được đãi tiệc. Ông Phạm Hồng Thái thừa cơ ném bom vào bàn tiệc, nhưng Merlin chỉ bị thương không chết. Bị rượt đuổi, ông Phạm Hồng Thái nhảy xuống sông chết. Ông được các nhà cách mạng Trung Hoa kính trọng chôn ông chung với 72 liệt sĩ của họ tại Hoàng Hoa Cương, tỉnh Quảng Châu.
105. Cụ Phan Bội Châu: Cụ Phan là một nhà cách mạng yêu nước, nhận thấy súng đạn thô sơ không chống nổi quân Pháp với vũ khí tối tân, và thấy người Nhật canh tân sứ xở mà trở thành cường thịnh. Cụ Phan đi từ Bắc chí Nam tìm thanh niên giỏi, yêu nước, gởi sang nước Nhật học. Cụ lập hội Duy Tân ở Nhật, lập Việt Nam Quang Phục hội ở Trung Hoa. Phong trào của cụ có tổ chức quân đội yểm trợ kháng chiến trong nước.
106. Lòng yêu nước của dân tộc Việt: Trải qua mấy ngàn năm lịch sử, dân tộc ta phải liên tiếp nổi lên chống lại sự xâm lăng đô hộ của người Tàu. Thực dân Pháp lại xâm chiếm nước ta, muốn biến nước ta thành một thuộc địa của chúng. Lòng yêu nước của người dân được khơi dậy mỗi ngày một nồng nàn, sự uất ức đau khổ mỗi ngày một tăng. Khắp mọi nơi từ Bắc chí Nam, các bậc anh hùng hào kiệt liên tục đứng lên chống Pháp dù rằng sức mạnh vũ khí chênh lệch quá xa, bất chấp mọi gông cùm xiềng xích, tù đày.
110. Sau cùng dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Đảng CSVN đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh bại quân Pháp với chiến thắng Điện Biên Phủ, ngày 7 tháng 5 năm 1954, mang lại độc lập tự do cho đất nước, mở một trang sử mới cho dân tộc.
TRUYỆN VIỆT SỬ BẰNG TRANH
HOÀI NGUYỄN - BIÊN SOẠN
NGUỒN TƯ LiỆU VIETLIST.US
TRUYỆN TRANH - TẬP 3
TỪ THỜI KỲ NHÀ MẠC
ĐẾN CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN PHỦ
61. Năm 1533, nhà Lê mất ngôi: Nhà Lê làm vua được 100 năm truyền đến vua Lê Chiêu Tông thì bị Mạc Đặng Dung cướp ngôi.
62. Chúa Trịnh: Nhà Mạc truyền ngôi đến Mạc Mậu Hợp thì bị Trịnh Tùng giết ở Thăng Long. Năm 1592, họ Trịnh xưng là chúa Trịnh đóng đô ở phía Bắc, chỉnh đốn quyền hành.
63. Trịnh Nguyễn phân tranh: Mặt khác, từ năm 1558 ông Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa lập nghiệp, đánh chiếm thêm đất của Chiêm Thành, xưng là chúa Nguyễn ở phương Nam. Chúa Nguyễn cho dân nghèo vào khai khẩn các vùng đất mới miền Nam. Từ đó nước Nam chia làm hai, lấy sông Gianh làm ranh giới.
64. Người Tây phương sang Việt Nam buôn bán: Giữa thế kỷ 16, người Bồ Đào Nha, người Hòa Lan đến nước ta buôn bán. Sau đó người Anh, người Pháp cũng đến buôn bán với nước ta. Các giáo sĩ cũng bắt đầu vào truyền bá đạo Thiên chúa cho dân Nam.
66. Chúa Nguyễn truyền đến đời Nguyễn Định Vương thì bị quyền thần Trương Phúc Loan chuyên quyền. Lợi dụng cơ hội, chúa Trịnh Sâm sai đại tướng Hoàng Ngũ Phúc đem quân vào đánh miền Nam.
67. Tây Sơn dấy binh: Năm 1771, đất Tây Sơn có 3 anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ khởi binh đánh lấy thành Qui Nhơn. Sau 3 anh em xin liên kết với chúa Trịnh rồi đem quân đánh chúa Nguyễn ở miền Nam. Cháu chúa Nguyễn là Nguyễn Ánh khởi binh đánh lại quân Tây Sơn. Nhưng sau quân Nguyễn Ánh thua to phải chạy ra Phú Quốc.
68. Nguyễn Ánh cầu viện Pháp, Xiêm La: Nguyễn Ánh gởi hoàng tử Cảnh cho giám mục Bá Đa Lộc sang Pháp cầu cứu. Vì Pháp giúp quân và tàu chiến, Nguyễn Ánh phải dâng cửa Hội An và đảo Côn Sơn cho người Pháp. Ngoài ra, chúa Nguyễn còn xin cầu cứu nước Xiêm La (Thái Lan). Vua Xiêm cho 20 ngàn quân và 300 chiến thuyền sang giúp, cốt để tìm lợi ích về sau.
69. Nguyễn Huệ phá quân Xiêm La: Quân Xiêm với 20 ngàn thủy quân tiến vào nước Nam. Nguyễn Huệ vào Gia định, nhử thủy quân Xiêm vào Mỹ Tho rồi đánh một trận. Quân Xiêm đại bại tan tành, chỉ còn lại vài ngàn người phải chạy bộ về nước.
70. Năm 1786, họ Trịnh mất nghiệp Chúa: Họ Trịnh truyền ngôi đến thời Trịnh Khải thì suy yếu vì tranh giành quyền lợi. Nguyễn Huệ lấy cớ phù Lê diệt Trịnh đem quân đánh chiếm thành Thăng Long. Chúa Trịnh tự tử chết.
71. Đời vua Lê Chiêu Thống, đại tư đồ Nguyễn Hữu Chỉnh chuyên quyền làm điều trái phép. Nguyễn Huệ sai Vũ Văn Nhậm ra đánh Chỉnh. Sau Nguyễn Huệ thấy Vũ Văn Nhậm kiêu căng lại đem binh ra Bắc lần thứ 2 đánh Vũ Văn Nhậm.
72. Cõng rắn cắn gà nhà: Vua Lê Chiêu Thống sợ hãi chạy qua Tàu cầu cứu. Vua Càn Long nhà Thanh sai Tôn Sĩ Nghị kéo 200 ngàn quân cùng với Hứa Thế Hanh, Sầm Nghi Đống sang đánh chiếm Thăng Long.
73. Vua Quang Trung đại phá quân Thanh: Vua Quang Trung Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế rồi kéo đại quân ra Bắc. Vua cho quân ăn Tết trước rồi giữa đêm giao thừa chớp nhoáng tấn công giặc. Đêm mùng 3 Tết quân Tàu ở đồn Hà Hồi bị quân Tây Sơn đánh phá quá mạnh nên phải ra đầu hàng.
74. Trận Ngọc Hồi: Mùng 5 Tết quân ta đánh đồn Ngọc Hồi, súng bắn ra như mưa. Vua Quang Trung cho quân khỏe mạnh khiêng ván đi trước, bộ binh theo sau. Quân ta tràn vào đồn rút dao chém giặc chết ngổn ngang, máu chảy thành sông. Hứa Thế Hanh tử trận, Sầm Nghi Đống phải treo cổ chết trong một ngôi miếu cổ.
75. Tôn Sĩ Nghị đang ngủ say, nửa đêm nghe báo tin không kịp thắng yên ngựa, bỏ cả ấn tín, không mặc áo giáp bỏ đồn chạy. Quân Thanh thấy chủ tướng bỏ chạy, tranh nhau qua cầu phao Nhị Hà. Cầu đổ, quân Tàu té xuống sông chết đuối, thây nổi như rạ.
76. Vua Quang Trung là một ông vua anh hùng, có nhiều mưu lược và cũng là một ông vua có lòng độ lượng, am hiểu việc trị nước, biết trọng nhân tài. Ông cho sứ đi cầu phong với nhà Thanh để giữ hòa khí. Mặt khác ông cho huấn luyện quân sĩ, chuẩn bị đánh nước Tàu dòi lại đất Lưỡng Quảng. Tiếc thay giấc mộng chưa thành thì ông chết sớm vào năm 40 tuổi.
77. Giám mục Bá Đa Lộc mang hoàng tử Cảnh về Pháp mộ tàu chiến và quân đội qua giúp Nguyễn Ánh. Nguyễn Ánh mang quân đánh từ Nam ra nhiều lần chiếm được thành Qui Nhơn và thành Phú Xuân.
78. Trong khi các vua quan sau của nhà Tây Sơn càng ngày càng yếu kém, chúa Nguyễn càng ngày càng cường thịnh. Năm 1802, Nguyễn Ánh đánh thắng quân Tây Sơn gồm thâu cả nước về một mối.
79. Nhà Nguyễn, 1802 - 1945: Nguyễn Ánh lên ngôi xưng là vua Gia Long, đặt tên nước là Việt Nam, đóng đô ở Huế (Phú Xuân). Nhìn chung Nguyễn Ánh là người hẹp hòi, đã cho đào mả của Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ vứt thây đi, và còn hành hạ, đánh giết tướng quân của Nguyễn Huệ. Mặt khác ông cũng giết hại công thần của chính ông. Tuy nhiên ông cũng có công trong việc khai khẩn miền Nam và cải tổ việc triều chính. Ông sai ông Nguyễn Văn Thành soạn bộ luật Gia Long gồm 22 quyển.
80. Năm 1820, vua Minh Mạng: Vua Minh Mạng là một ông vua siêng năng chăm lo việc nước và có nhiều cải cách. Ông đã đánh dẹp được nhiều giặc giã. Ông cũng cấm đạo Thiên Chúa, nhiều giáo sĩ và tín đồ bị giết.
81. Năm 1841, đời vua Thiệu Trị - Pháp bắn phá Đà Nẵng: Vua Thiệu Trị là một ông vua hiền hòa, không có nhiều cải cách. Năm 1847 có 2 tàu chiến của Pháp đậu ở Đà Nẵng, đang điều đình xin cho bỏ cấm đạo. Vì hiểu lầm là quân ta sắp tấn công, họ bắn chìm nhiều thuyền bè ta rồi bỏ đi.
82. Năm 1847, vua Tự Đức: Tự Đức là một ông vua học rộng, hiểu nhiều, thờ mẹ rất chí hiếu . Ông chăm lo việc vua, nhưng quan lại phần đông là những người thủ cựu, hẹp hòi. Nhiều đề nghị canh tân, cải cách của ông Nguyễn Trường Tộ và những người khác đều bị bác bỏ. Nước ta dùng chính sách bế quan tỏa cảng, không chịu giao tiếp với nước ngoài nên mất đi nhiều cơ hội quý báu mở cửa học hỏi, giao thương. Nếu vua Tự Đức có những phản ứng thích hợp, ông đã có thể đưa đất nước ta từ chỗ ngu muội, lạc hậu lên hàng phát triển, cường thịnh như là nước Nhật thời bấy giờ dưới triều Minh Trị Thiên Hoàng.
83. Pháp chiếm Nam kỳ: Năm 1859, Pháp đem tàu chiến tấn công Đà Nẵng rồi đánh chiếm thành Gia Định. Ông Nguyễn Tri Phương đắp thành Kỳ Hòa miệt Chí Hòa chống giặc, nhưng rồi cũng thua. Sau đó Pháp đánh tiếp và lấy được Mỹ Tho, Biên Hòa, Vĩnh Long.
84. Thất trận, triều đình ký hòa ước Nhâm Tuất, 1862, nhường Biên Hòa, Gia Định, Định Tường cho Pháp. Triều đình cho Pháp, Ý tự do giảng đạo và phải bồi thường thiệt hại cho 2 nước nầy. Triều đình cũng cử ông Phan Thanh Giản đi sứ nước Pháp để xin chuộc lại 3 tỉnh Nam kỳ nhưng không thành công.
85.Ông Phan Thanh Giản: Năm 1867, Pháp lại đánh tiếp chiếm 3 tỉnh Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên. Ông Phan Thanh Giản chống không lại, đành nộp thành rồi uống thuốc độc tự tử chết. Người Pháp kính trọng lòng trung liệt của ông đối với đất nước nên cho chôn cất ông đàng hoàng.
86. Giặc giã thời Tự Đức: Dù Tự Đức là một ông vua chăm chỉ, nhưng giặc giã nổi lên rất nhiều vì lòng người còn nhớ nhà Lê. Thời đó có giặc Tam Đường, giặc Châu Chấu, giặc tên Phụng, giặc kinh thành, giặc Chìa Vôi, giặc Khách...
87. Năm 1873, Pháp chiếm Bắc kỳ lần thứ 1: Lợi dụng tên lái buôn người Pháp là Đồ Phổ Nghĩa gặp cản trở trong việc buôn bán ngoài Bắc, đại úy Garnier đem tàu chiến từ Sài Gòn ra tấn công thành Thăng Long. Dù vũ khí thô sơ, ông Nguyễn Tri Phương anh dũng chiến đấu giữ thành, bị thương và bị giặc bắt. Ông không chịu để giặc băng bó vết thương, nhịn ăn mà chết. Về sau đại úy Garnier bị quân ta phối hợp với quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc phục kích và giết chết ở cầu Ô Giấy.
88. Năm 1874, Hòa ước Giáp Tuất : Triều đình Huế ký hòa ước với Pháp, Bắc kỳ được trả lại cho Việt Nam. Việt Nam cho người Pháp tự do giảng đạo và thương gia Pháp được tự do buôn bán. Nhưng sáu tỉnh Nam kỳ vẫn thuộc về nước Pháp.
89. Pháp chiếm Bắc kỳ lần thứ 2, tổng đốc Hoàng Diệu tự vẫn: Đổ lỗi việc giặc Khách ngăn trở người Pháp buôn bán, quân Pháp đem quân ra đánh thành Hà Nội lần thứ 2. Thành Hà Nội thất thủ, quan Tổng đốc Hà Nội là Hoàng Diệu thắt cổ tự vẫn.
90. Sự sai lầm của vua quan nhà Nguyễn: Trong khi các cường quốc kỹ nghệ cần mở rộng giao thương buôn bán thì vua quan nước ta u tối không biết thừa cơ mở cửa ra học hỏi, thông thương cho nước giàu dân mạnh. Nước ta trong thời kỳ này lại đóng cửa cấm đoán mọi thứ, làm các nước khác có cớ để xâm lấn nước ta . Thời đại biến đổi mà mình không biết biến đổi. Trong khi Nhật Bản, Thái Lan mở cửa giao thương học hỏi, thì mình tự cho mình là văn minh, coi các nước khác là lạc hậu, mọi rợ. Cái giá phải trả là cả đất nước, dân tộc ta là bị thực dân Pháp đô hộ cả trăm năm.
91. Năm 1884: Vua quan ta không chịu mở cửa giao thương, lại thích sang Tàu cầu viện. Quân Tàu cũng sang giúp ta đánh Pháp dù rằng nước Tàu cuối đời nhà Thanh cũng đang rối ren, bị các cường quốc phương Tây cấu xé. Sau Pháp và Tàu ký hòa ước Fournier, nước Tàu rút quân về để Pháp tiếp tục đánh chiếm nước ta.
92. Vua Hàm Nghi và Hịch Cần Vương: Triều đình Huế ngày một rối ren, quyền hành ở trong tay hai ông Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết. Năm 1885, Pháp tấn công triều đình Huế. Vua Hàm Nghi phải chạy ra Quảng Bình, ban hịch Cần Vương kêu gọi dân giúp vua chống Pháp. Triều đình không có vua phải lập vua Đồng Khánh lên ngôi.
93. Năm 1887: Pháp lập quan Tổng Đốc toàn quyền ở Sài Gòn để trông coi việc cai trị ở Nam kỳ và Cao Miên, cùng với việc bảo hộ ở Bắc kỳ. Mỗi nơi có một viên Thống sứ đứng đầu. Người Pháp thường nhúng tay can thiệp vào công việc triều đình. Họ hay ủng hộ việc lập các ông vua trẻ lên ngôi mà thực chất là bù nhìn để dễ dàng thuyết phục và lấn lướt quyền hành.
94. Trong khi Pháp lo xếp đặt ở Bắc kỳ thì ở Trung kỳ phong trào Cần Vương đánh phá mạnh. Vua Đồng Khánh ra sức chiêu dụ vua Hàm Nghi và các quan đại thần về cho yên việc đánh dẹp, nhưng các cựu thần vẫn nổi lên làm loạn. Vua Đồng Khánh phải trở về kinh.
95. Vua Hàm Nghi bị bắt: Bị tên cận thần Trương Quang Ngọc phản bội, vua Hàm Nghi bị bắt đày đi Algerie, nhiều quan quân bị Pháp giết. Tùy tướng Tôn Thất Đạm con của Tôn Thất Thuyết viết thư xin lỗi vua đã không làm tròn nhiệm vụ rồi tự vẫn giữ tấm lòng trung.
96. Cách cai trị của người Pháp: Thực dân Pháp chia nước ta thành 3 kỳ : Nam kỳ gọi là thuộc địa, coi như lãnh thổ nước Pháp. Bắc kỳ là xứ bảo hộ, quan Việt phải phục tùng quan Pháp. Trung kỳ do vua nước Nam giữ. người từ miền nầy qua miền khác phải xin phép chính phủ bảo hộ. Đây là chính sách “chia để trị “nhằm chia rẽ người Việt trong một nước để người Pháp dễ bề cai trị. người Pháp thu nhiều thứ thuế để nuôi dưỡng bọn quan quân bảo hộ.
97. Ông Phan Đình Phùng: Ông Phan Đình Phùng thi đỗ làm quan, có cả tài văn võ. Ông đứng đầu phong trào Văn Thân, xây chiến lũy Ba Đình, tập luyện binh sĩ chống Pháp. Ông có tài tổ chức quân đội, huấn luyện binh sĩ theo lối Âu châu. Thực Pháp đánh dẹp nhiều năm không xong. Sau ông già bị bịnh mà mất. Phong trào Văn Thân tan rã.
98. Ông Nguyễn Trung Trực, anh hùng trên sông Nhật Tảo : Ông Nguyễn Trung Trực sinh quán tại Bình Định. Ông là một sĩ phu bất khuất, lãnh đạo nghĩa quân khởi nghĩa 8 năm ở vùng Nam Kỳ Lục Tỉnh. Chiến công chói lọi của ông là đốt cháy tàu Espérance trên sông Nhật Tảo, Tân An, và đánh chiếm thành Sơn Đá tại Kiên Giang. Sau kháng chiến thất bại, ông bị bắt chém tại chợ Rạch Giá năm 1868. Dân chúng chôn cất và lập đền thờ ông tại tỉnh Rạch Giá.
99. Ông Trương Công Định, anh hùng Gò Công: Ông Trương Công Định từng ở trong đội quân của Kinh Lược Sứ Nguyễn Tri Phương và đánh Pháp lập được nhiều chiến công. Ông cùng nghĩa binh xây dựng nhiều đồn lũy kiên cố ở Gò Công. Được dân chúng ủng hộ mạnh mẽ, nghĩa binh ông gây nhiều thiệt hại cho giặc. Về sau ông bị tên Huỳnh Công Tấn làm phản dẫn quân Pháp về đánh. Ông hy sinh, đền nợ nước, để lại thương tiếc cho mọi người .
100. Ông Thiên Hộ Dương, anh hùng Đồng Tháp : Ông tên thật là Võ Duy Dương, làm chức Lãnh binh năm 1865. Ông khởi nghĩa ở miệt Đồng Tháp, Cái Bè, Mỹ Quý, Sa Đéc, gây nhiều thiệt hại cho thực dân Pháp. Sau ông bị bịnh chết, phong trào "Dân Chúng Tự Vệ" của ông từ đó cũng bị lu mờ và tan rã.
101. Ông Hoàng Hoa Thám, hùm thiêng Yên Thế: Ông Hoàng Hoa Thám người tỉnh Bắc Giang. Năm 1886, ông lập chiến khu Yên Thế, xây đồn trại, mua súng ống chống Pháp, nên ông còn có danh hiệu là Hùm Thiêng Yên Thế. Ông gây nhiều thiệt hại cho giặc Pháp ở vùng Nhã Nam, Yên Thế, Tam Đảo. Năm 1913, ông bị tên Lương Tam Kỳ làm phản giết ông để lãnh thưởng của giặc Pháp.
102. Ông Cao Thắng đúc súng: Ông Cao Thắng là một bộ tướng cüa ông Phan Ðình Phùng có tài rèn và đúc súng. Ông đúc súng theo kiểu 1874 của Pháp để trang bị cho nghîa binh. Tài nghệ cüa ông cũng được người Pháp kính trọng.
103. Anh hùng Nguyễn Thái Học: Là một sinh viên trường Cao Đẳng Thương Mại Hà Nội. Ông thành lập Việt Nam Quốc Dân Đảng, chủ trương bạo động chống Pháp, được sự tham gia đông đảo của giới thanh niên. Cuộc tổng khởi nghĩa năm 1930 bị thất bại, ông cùng 12 đồng chí bước lên máy chém ở Yên Bái. Trước khi chết ông bình tĩnh nhìn dân chúng, mỉm cười rồi hô to: "Việt Nam Muôn Năm".
104. Anh hùng Phạm Hồng Thái và tiếng bom Sa Diện: Năm 1923, quan Toàn quyền Merlin đi công tác bên Nhật về đến Sa Diện, Quảng Châu và được đãi tiệc. Ông Phạm Hồng Thái thừa cơ ném bom vào bàn tiệc, nhưng Merlin chỉ bị thương không chết. Bị rượt đuổi, ông Phạm Hồng Thái nhảy xuống sông chết. Ông được các nhà cách mạng Trung Hoa kính trọng chôn ông chung với 72 liệt sĩ của họ tại Hoàng Hoa Cương, tỉnh Quảng Châu.
105. Cụ Phan Bội Châu: Cụ Phan là một nhà cách mạng yêu nước, nhận thấy súng đạn thô sơ không chống nổi quân Pháp với vũ khí tối tân, và thấy người Nhật canh tân sứ xở mà trở thành cường thịnh. Cụ Phan đi từ Bắc chí Nam tìm thanh niên giỏi, yêu nước, gởi sang nước Nhật học. Cụ lập hội Duy Tân ở Nhật, lập Việt Nam Quang Phục hội ở Trung Hoa. Phong trào của cụ có tổ chức quân đội yểm trợ kháng chiến trong nước.
106. Lòng yêu nước của dân tộc Việt: Trải qua mấy ngàn năm lịch sử, dân tộc ta phải liên tiếp nổi lên chống lại sự xâm lăng đô hộ của người Tàu. Thực dân Pháp lại xâm chiếm nước ta, muốn biến nước ta thành một thuộc địa của chúng. Lòng yêu nước của người dân được khơi dậy mỗi ngày một nồng nàn, sự uất ức đau khổ mỗi ngày một tăng. Khắp mọi nơi từ Bắc chí Nam, các bậc anh hùng hào kiệt liên tục đứng lên chống Pháp dù rằng sức mạnh vũ khí chênh lệch quá xa, bất chấp mọi gông cùm xiềng xích, tù đày.
110. Sau cùng dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Đảng CSVN đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh bại quân Pháp với chiến thắng Điện Biên Phủ, ngày 7 tháng 5 năm 1954, mang lại độc lập tự do cho đất nước, mở một trang sử mới cho dân tộc.
TRUYỆN VIỆT SỬ BẰNG TRANH
HOÀI NGUYỄN - BIÊN SOẠN
NGUỒN TƯ LiỆU VIETLIST.US
 
↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng RAR và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT ↓







Các ý kiến mới nhất